VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
Tổ chức "Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026"
Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức "Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026".
Festival là hoạt động nhằm tôn vinh và quảng bá sâu rộng giá trị lịch sử, văn hóa của Thăng Long - Hà Nội, góp phần khẳng định vị thế của Thủ đô ngàn năm văn hiến-nơi hội tụ, kết tinh bản sắc và lan tỏa sáng tạo, từng bước phát huy vai trò là trung tâm lớn về văn hóa và động lực phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, là bước đi thiết thực góp phần hiện thực hóa các mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội về việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
Giới thiệu rộng rãi tới nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế những giá trị tiêu biểu, đặc sắc của di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Hà Nội; tăng cường giao lưu văn hoá trong nước và quốc tế, tạo không gian gặp gỡ, trao đổi giữa các địa phương, quốc gia, tổ chức văn hóa - nghệ thuật; thúc đẩy hợp tác, sáng tạo, hình thành các sản phẩm mới có giá trị, góp phần phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hoá của Thủ đô.
Góp phần kích cầu du lịch, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô hình thành các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật và lễ hội đặc trưng mang thương hiệu Hà Nội; xây dựng và định vị thương hiệu Hà Nội mang tầm quốc tế là điểm đến "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo - hội nhập".
Festival với chủ đề "Dòng chảy di sản - Heritage flow" sẽ diễn ra ngày 11/9/2026 tại Hoàng Thành Thăng Long. Sự kiện do Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội tổ chức; Sở Văn hóa và Thể thao là đơn vị chủ trì thực hiện cùng các hoạt động nổi bật như: Chương trình nghệ thuật đặc biệt Khai mạc Festival Thăng Long Hà Nội lần thứ II năm 2026; nghệ thuật nhạc trẻ; "Giao lưu nghệ thuật"; đêm thời trang "Sắc màu Hà Nội - The color of Hanoi"; hoạt động trình diễn nghệ thuật thanh âm Gốm.
Bên cạnh đó, Festival có các hoạt động phụ trợ: Hoạt động triển lãm, trưng bày, trải nghiệm kết nối di sản, trình diễn nghệ thuật; triển lãm, trải nghiệm về tinh hoa làng nghề và trình diễn văn hóa phi vật thể; Vở diễn "Thăng Long Ngự Yến".
Ngoài ra, Thành phố yêu cầu định hướng xây dựng một chiến dịch truyền thông đa tầng, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hiến nghìn năm và tinh thần sáng tạo của thời đại mới. Thông qua hệ thống thông điệp được thể hiện song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, Festival góp phần kể lại câu chuyện về một Thủ đô "Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo - Hội nhập", qua đó tôn vinh giá trị lịch sử - văn hóa và khẳng định vị thế của Hà Nội trong khu vực và trên trường quốc tế.
Phương thức truyền thông cũng được tổ chức triển khai một cách toàn diện, đồng bộ và có chiều sâu thông qua các kênh chủ lực, bao gồm hệ thống báo chí Trung ương và báo chí Thủ đô; các nền tảng mạng xã hội và các kênh truyền thông số; các hãng thông tấn và cơ quan báo chí quốc tế; hệ thống truyền thông trên các chuyến bay của Vietnam Airlines cùng các hãng hàng không khác; kết hợp truyền thông quảng bá Festival trong các hoạt động đối ngoại của Thành phố tại nước ngoài. Song song với đó, các hoạt động truyền thông cộng đồng được chú trọng nhằm gia tăng hiệu ứng lan tỏa, bồi đắp niềm tự hào và thúc đẩy sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân; Xây dựng Website chính thức của Festival Thăng Long - Hà Nội.
UBND Thành phố giao Sở Văn hóa và Thể thao là cơ quan thường trực tham mưu tổng thể và tổ chức thực hiện các nội dung của Chương trình; tham mưu UBND Thành phố ban hành Kế hoạch tổ chức Festival Thăng Long - Hà Nội, lần thứ II năm 2026; chịu trách nhiệm trước UBND Thành phố về nội dung, kịch bản tổng thể, thủ tục, trình tự đảm bảo chất lượng, đảm bảo tiến độ, đúng quy định của pháp luật và Thành phố.
Chủ trì, chịu trách nhiệm sản xuất phim phóng sự, video clip, visual; áp dụng các hiệu ứng sân khấu hiện đại như 3D mapping, AR thực tế ảo, trình chiếu hologram và các công nghệ mới nhằm đáp ứng với quy mô của chương trình.
Xây dựng phương án truyền thông, đẩy mạnh tuyên truyền trước, trong và sau sự kiện; kết hợp truyền thông quảng bá Festival trong các hoạt động đối ngoại của Thành phố tại nước ngoài. Hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan báo chí Thành phố thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin đối ngoại, thông tin điện tử tổng hợp, các nền tảng mạng xã hội.
Tăng cường trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả trong công tác tiếp công dân
Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng đã ký ban hành Công văn số 1768/UBND-BTCD ngày 25/4/2026 về việc tăng cường trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả trong công tác tiếp công dân trên địa bàn Thành phố.
Theo nội dung Công văn, Chủ tịch UBND Thành phố yêu cầu Chủ tịch UBND các xã/phường, Thủ trưởng các sở, ban, ngành Thành phố, tập trung tổ chức thực hiện nghiêm Kế hoạch số 13/KH-UBND của UBND Thành phố về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2026. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, triệt để các Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận nội dung tố cáo đã có hiệu lực pháp luật, những vụ việc đã có ý kiến chỉ đạo xem xét, giải quyết của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, Thành phố.
Thường xuyên nắm chắc tình hình khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo địa bàn, đơn vị, lĩnh vực. Tổ chức tiếp công dân thường xuyên, định kỳ đúng quy định của pháp luật, yêu cầu của UBND Thành phố; Chủ tịch UBND các xã, phường tăng cường trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả trong công tác tiếp công dân; trực tiếp thực hiện tiếp công dân định kỳ ít nhất 2 ngày/tháng (trong đó ưu tiên bố trí 1 ngày vào thứ 3, tuần thứ Ba hằng tháng); giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc mới phát sinh. Thông tin báo cáo đầy đủ nội dung vụ việc, quá trình, kết quả giải quyết với cấp trên và đơn vị liên quan.
Đồng thời, giao Văn phòng UBND Thành phố (Ban Tiếp công dân Thành phố) chủ động rà soát các vụ việc công dân đăng ký tiếp vượt cấp tại buổi tiếp công dân định kỳ của Chủ tịch UBND Thành phố để chuyển vụ việc đến Chủ tịch UBND cấp xã/phường, Thủ trưởng các sở, ban, ngành Thành phố thực hiện tiếp công dân, giải quyết theo thẩm quyền quy định pháp luật. Theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả giải quyết các vụ việc đã chuyển, kiến nghị xem xét trách nhiệm của tập thể, cá nhân chậm thực hiện; gửi Sở Nội vụ tổng hợp làm căn cứ chấm điểm thi đua, đánh giá xếp loại theo quy định.
Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Thành phố
Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng đã ký ban hành Quyết định số 2252/QĐ-UBND ngày 25/4/2026 về ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho thành phố Hà Nội.
Quy chế này gồm 04 Chương, 13 Điều quy định về quản lý, sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho thành phố Hà Nội để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận, thương mại.
Đối tượng áp dụng gồm: (1) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức thuộc phạm vi điều chỉnh nêu tại Quy chế này. (2) Bên tiếp nhận viện trợ trong Quy chế này là các cơ quan, tổ chức thuộc UBND Thành phố, đăng ký kinh doanh tại thành phố Hà Nội (đối với doanh nghiệp xã hội, doanh nghiệp khoa học và công nghệ), có chức năng, nhiệm vụ và hoạt động phù hợp với mục tiêu và nội dung của khoản viện trợ. (3) Bên cung cấp viện trợ trong Quy chế này là các tổ chức, cá nhân nước ngoài có thiện chí, tôn trọng và chấp hành pháp luật Việt Nam.
Nguyên tắc quản lý và sử dụng viện trợ được quy định: UBND Thành phố thống nhất quản lý Nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức dành cho thành phố Hà Nội.
Việc quản lý và sử dụng viện trợ phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Các khoản viện trợ chỉ được tiếp nhận, thực hiện, sử dụng khi được cấp có thẩm quyền của Việt Nam phê duyệt. Nguồn tiền viện trợ phải là nguồn tiền, tài sản hợp pháp; không làm ảnh hưởng đến an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội, không xâm hại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam hoặc xâm hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc quản lý và sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức phải tuân thủ những nguyên tắc được quy định tại Điều 4 và không thuộc hành vi bị cấm trong sử dụng viện trợ quy định tại Điều 5 Nghị định số 313/2025/NĐ-CP ngày 08/12/2025 của Chính phủ.
Quy định về trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng cách xa địa điểm làm việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội
Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Dương Đức Tuấn vừa ký ban hành Quyết định số 51/2026/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 về quy định về trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng cách xa địa điểm làm việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Quyết định này quy định chi tiết khoản 2 Điều 9 Nghị quyết số 201/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội về trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng cách xa địa điểm làm việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
Đối tượng áp dụng gồm: (1) Các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở. (2) Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, các doanh nghiệp, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, hộ gia đình, cá nhân liên quan đến việc phát triển, quản lý sử dụng, sở hữu nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đồng thời, Quyết định quy định chi tiết trường hợp có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng cách xa địa điểm làm việc được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội:
Đối tượng có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng cách xa địa điểm làm việc từ 20 km trở lên đáp ứng điều kiện về nhà ở để được mua, thuê mua nhà ở xã hội khi thỏa mãn các điều kiện sau: Có một nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội. Khoảng cách từ dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đăng ký mua, thuê mua đến địa điểm làm việc của đối tượng nhỏ hơn 2/3 khoảng cách từ nhà ở hiện tại đến địa điểm làm việc. Đáp ứng điều kiện về đối tượng và thu nhập theo quy định của pháp luật về nhà ở. Trường hợp người đứng đơn đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội là người đã kết hôn thì cả hai vợ chồng đều phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản này.
Nguyên tắc xác định khoảng cách: Khoảng cách quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo chiều dài tuyến đường giao thông đường bộ ngắn nhất giữa hai địa điểm.
Việc xác định khoảng cách được thực hiện trên nền tảng Google Maps (chế độ lái xe ô tô) tại thời điểm tiếp nhận, xét duyệt hồ sơ.
Các địa điểm được sử dụng để xác định khoảng cách bao gồm: Địa điểm nhà ở thuộc sở hữu của đối tượng theo địa chỉ ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Địa điểm làm việc của đối tượng theo giấy tờ chứng minh địa điểm làm việc quy định tại Điều 4 Quyết định này. Địa điểm dự án nhà ở xã hội theo địa chỉ dự án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án.
Nghiên cứu lập Quy hoạch cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ
Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Dương Đức Tuấn đã ký ban hành Kế hoạch số 172/KH-UBND ngày 26/4/2026 về nghiên cứu lập Quy hoạch cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Kế hoạch nhằm triển khai tổ chức thực hiện Quyết định số 1668/QĐ-TTg ngày 27/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 và Quy định quản lý đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô, các đồ án Quy hoạch phân khu đô thị trên địa bàn Thành phố đã được UBND Thành phố phê duyệt. Đồng thời thống nhất với định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm được UBND Thành phố phê duyệt Nhiệm vụ tại Quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 21/02/2026. Thực hiện chủ trương, định hướng của Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới và các quy định của Luật Thủ đô.
Làm cơ sở để triển khai thực hiện lập, thẩm định và phê duyệt Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, Quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500, Đề án quy gom đối với các nhà chung cư cũ độc lập, đơn lẻ, đảm bảo tiến độ và triển khai dự án đầu tư cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư trên địa bàn Thành phố; đảm bảo đồng bộ với Chương trình phát triển đô thị của Thành phố.
Đối tượng thực hiện là toàn bộ nhà chung cư theo Danh mục được UBND Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 5456/QĐ-UBND ngày 05/11/2025 tại 48 phường, xã nơi có nhà chung cư cũ gồm: (1) Đống Đa; (2) Láng; (3) Kim Liên; (4) Văn Miếu - Quốc Tử Giám; (5) Ô Chợ Dừa; (6) Ba Đình; (7) Giảng Võ; (8) Ngọc Hà; (9) Hai Bà Trưng; (10) Vĩnh Tuy; (11) Cầu Giấy; (12) Nghĩa Đô; (13) Thanh Xuân; (14) Thanh Liệt; (15) Khương Đình; (16) Hoàng Liệt; (17) Hoàng Mai; (18) Vĩnh Hưng; (19) Yên Sở; (20) Long Biên; (21) Bồ Đề; (22) Việt Hưng; (23) Phúc Lợi; (24) Đông Ngạc; (25) Vĩnh Thanh; (26) Thanh Trì; (27) Phúc Thịnh; (28) Hà Đông; (29) Bạch Mai; (30) Tương Mai; (31) Phú Diễn; (32) Tây Hồ; (33) Phú Thượng; (34) Gia Lâm; (35) Hồng Hà; (36) Thư Lâm; (37) Đông Anh; (38) Phương Liệt; (39) Cửa Nam; (40) Hoàn Kiếm; (41) Đại Mỗ; (42) Xuân Mai; (43) Yên Hòa; (44) Từ Liêm; (45) Đại Thanh; (46) Xuân Phương; (47) Ngọc Hồi; (48) Phù Đổng.
Việc xây dựng Kế hoạch tổ chức lập quy hoạch cần có trọng tâm, trọng điểm; đảm bảo "rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ trách nhiệm", hiệu quả, khả thi, hài hòa lợi ích của các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư, nhà đầu tư và Nhà nước.
Về tổ chức thực hiện, UBND cấp phường, xã sẽ tổ chức lập quy hoạch; nhà đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan được lựa chọn để thực hiện dự án đầu tư; việc lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 (gồm Nhiệm vụ và Quy hoạch) được thực hiện theo quy trình, quy định tại Điều 17, 21, 26 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15; Khoản 9, 11, 15 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 144/2025/QH15; Điều 4 Nghị định 145/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ...
Theo tiến độ đề ra, các phường, xã phải hoàn thành triển khai lập quy hoạch trong Quý II/2026; hoàn thành Đề án quy gom các nhà chung cư đơn lẻ, độc lập xong trong Quý III/2026.
Đối với các Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, Quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500: Ưu tiên triển khai ngay công tác lập quy hoạch (Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, Quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500) đối với các Khu chung cư/nhà chung cư có kết quả kiểm định, đánh giá chất lượng thuộc đối tượng phải phá dỡ theo quy định.
Các khu vực phải lập quy hoạch: Đã được phê duyệt Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết: Xong trong Quý II/2026. Đang nghiên cứu triển khai, chưa được phê duyệt Nhiệm vụ quy hoạch: đảm bảo 50% số lượng khu chung cư cũ hoàn thành công tác lập quy hoạch trong năm 2026; kết thúc công tác lập quy hoạch 100% các khu chung cư cũ trên địa bàn: quý II/2027.
Các khu vực lập Quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500: Linh hoạt theo yêu cầu đầu tư xây dựng theo Dự án cải tạo, xây dựng lại các nhà chung cư cũ. Kết thúc công tác thỏa thuận (100%) Quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500 các nhà chung cư cũ trên địa bàn vào Quý III/2027.
Ban hành Quy định quản lý, sử dụng nghĩa trang trên địa bàn Thủ đô
Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Dương Đức Tuấn đã ký ban hành Quyết định số 50/2026/QĐ-UBND ngày 27/4/2026 về ban hành Quy định quản lý, sử dụng nghĩa trang trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Quy định gồm 04 Chương, 14 Điều về việc quản lý, sử dụng nghĩa trang bao gồm: nghĩa trang cấp Thành phố; nghĩa trang cấp xã và các nghĩa trang được đầu tư xây dựng bằng nguồn xã hội hóa (trừ nghĩa trang Quốc gia, nghĩa trang liệt sĩ); áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến việc quản lý, sử dụng nghĩa trang trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đồng thời, Quyết định cũng quy định rõ các nguyên tắc quản lý: (1) Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, sử dụng nghĩa trang. (2) Khuyến khích sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm tối đa quỹ đất, kinh phí xây dựng và đảm bảo yêu cầu môi trường và cảnh quan xung quanh. (3) Việc táng người chết phải được thực hiện trong nghĩa trang. Trường hợp đặc biệt (khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và trường hợp khác) phải táng người chết ngoài khu vực nghĩa trang được sự chấp thuận của UBND Thành phố (qua Sở Nội vụ để xem xét, giải quyết). (4) Từng bước di chuyển các phần mộ riêng lẻ về nghĩa trang tập trung các cấp; thực hiện việc cải tạo, đóng cửa, di chuyển các nghĩa trang gây ô nhiễm môi trường, nghĩa trang phân tán, riêng lẻ đã hết quỹ đất. (5) Nghĩa trang phải có tường, rào, trồng cây xanh bao quanh để có cảnh quan, khuôn viên riêng biệt. (6) Nghĩa trang cấp Thành phố phục vụ nhu cầu người dân thành phố Hà Nội; nghĩa trang cấp xã phục vụ nhu cầu nhân dân sinh sống trên địa bàn và những người có nguồn gốc tại địa phương. (7) Việc quản lý nghĩa trang phải tuân thủ quy định của pháp luật và Quyết định này, phù hợp phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, nếp sống văn minh, tiết kiệm đất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. (8) Việc lưu giữ tro cốt trong công trình nhiều tầng tại các cơ sở tôn giáo phải được sự chấp thuận của UBND Thành phố.
Thực hiện TTHC, dịch vụ công trực tuyến liên thông, đồng bộ, hiệu quả
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng đã ký ban hành Công văn số 1747/UBND-NC ngày 25/4/2026 về việc thực hiện TTHC, dịch vụ công trực tuyến liên thông, đồng bộ, hiệu quả, không bị gián đoạn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo đó, UBND Thành phố giao: (1) Giám đốc, Thủ trưởng các Sở, ban, ngành Thành phố chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan thuộc các Bộ, cơ quan ngang bộ để tổ chức thực hiện cấu hình quy trình giải quyết, phân quyền tài khoản cán bộ thực hiện giải quyết TTHC của các sở, ngành, UBND cấp xã trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của các Bộ, ngành chủ quản.
Đối với các TTHC đặc thù hoặc chưa được cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo mô hình tập trung, tiếp tục duy trì, vận hành, nâng cấp (nếu cần) Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của Thành phố để tiếp nhận, xử lý hồ sơ của tổ chức, cá nhân và tích hợp cung cấp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Tổ chức thực hiện hiệu quả các TTHC đã được phân cấp, phân quyền; thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, bảo đảm việc tiếp nhận không phụ thuộc vào địa giới hành chính, tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
(2) Chủ tịch UBND các xã, phường tập trung xử lý đối với các hồ sơ TTHC cấp xã trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC thực hiện trên hệ thống của các Bộ, ngành chủ quản.
Chủ động cập nhật hồ sơ trên các nền tảng liên quan để kịp thời xử lý; Phối hợp với Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố để đối chiếu số liệu đảm bảo thống nhất số liệu chung của đơn vị và Thành phố.
Phối hợp với các Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công để thống nhất phương pháp tiếp nhận và xử lý TTHC thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã.
UBND các xã, phường chủ động báo cáo các sở chuyên ngành về các vướng mắc phát sinh khi thực hiện TTHC trên hệ thống của Bộ, ngành trung ương.
(3) Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố chủ trì, tiếp tục cập nhật thường xuyên số liệu công khai trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, kịp thời cung cấp thông tin để các cơ quan, đơn vị chủ động xử lý và báo cáo kết quả thực hiện theo quy định.
Chủ động phối hợp với đơn vị xây dựng và phát triển Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Thành phố để kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến việc giải quyết TTHC, cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Thành phố và các phường, xã.
Tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Xuân Lưu đã ký ban hành Công văn số 1759/UBND-KT ngày 25/4/2026 về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá.
Thực hiện Công điện số 28/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá, UBND Thành phố chỉ đạo các Sở Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Công Thương, Y tế, Du lịch, Tài chính, UBND các phường, xã như sau:
1. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, tập trung nghiên cứu, triển khai các nội dung Thủ tướng Chính phủ Công điện số 28/CĐ-TTg ngày 01/04/2026 và chỉ đạo của UBND Thành phố tại Văn bản số 1124/UBND-KT ngày 19/3/2026.
2. Nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát và các mục tiêu tăng trưởng kinh tế kỳ vọng năm 2026 cần tập trung một số nhiệm vụ cụ thể: (i). Đối với mặt hàng xăng dầu: Giao Sở Công Thương chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 22/CĐ-TTg ngày 11/3/2026, các Văn bản của Bộ Công Thương và UBND Thành phố về điều hành kinh doanh xăng dầu, đảm bảo nguồn cung, ổn định thị trường xăng dầu trên địa bàn, giảm thiểu tác động của giá xăng dầu đến các hàng hóa dịch vụ. Chỉ đạo Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội tiếp tục tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên địa bàn, xử lý nghiêm các trường hợp tạo khan hiếm nguồn cung, không cung cấp đủ hàng cho các cửa hàng bán lẻ xăng dầu.
(ii). Mặt hàng lương thực, thực phẩm: Giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp với Sở Công Thương và các đơn vị có liên quan khẩn trương thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 21/CĐ-TTg về tăng cường công tác rà soát tiếp nhận kê khai giá đối với các loại thóc, gạo thuộc thẩm quyền tiếp nhận kê khai giá, đẩy mạnh kiểm tra, giám sát hoạt động giết mổ, cung ứng thịt lợn đảm bảo chất lượng.
(iii). Mặt hàng thức ăn chăn nuôi và phân bón: Giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát việc kê khai, niêm yết giá và công khai thông tin về giá các mặt hàng thức ăn chăn nuôi, phân bón, chủ động nắm bắt thời điểm canh tác, nuôi trồng.
(iv). Mặt hàng vật liệu xây dựng: Giao Sở Xây dựng chủ trì phối hợp với các Sở, ngành và các đơn vị có liên quan nghiêm túc triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 25/CĐ-TTg ngày 21/3/2026. Triển khai đồng bộ các giải pháp đảm bảo nguồn cung các loại vật liệu xây dựng, đặc biệt là các dự án đầu tư công như 02 đại dự án (Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, Dự án Khu đô thị thể thao Olympic) và các dự án BT…, kịp thời cập nhật giá vật liệu xây dựng để công bố theo đúng quy định, đặc biệt đối với các mặt hàng chịu tác động lớn từ giá xăng dầu, chi phí vận chuyển. Tăng cường kiểm tra việc kê khai giá, niêm yết công khai thông tin về giá đối với các mặt hàng vật liệu xây dựng theo quy định.
(v). Dịch vụ lưu trú, du lịch: Giao Sở Du lịch chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan tăng cường kiểm tra, rà soát việc kê khai giá, niêm yết giá xử lý nghiêm các hành vi tăng giá vào các dịp lễ, tết…
(vi). Thuốc, vật tư y tế: Giao Sở Y tế chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan tiếp nhận hồ sơ kê khai giá, kiểm tra các cơ sở đã kê khai giá, việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, đảm bảo cung ứng đầy đủ thuốc và vật tư y tế phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
(vii). Hàng hóa dịch vụ do nhà nước định giá: Yêu cầu các cơ quan, đơn vị khẩn trương tham mưu xây dựng, thẩm định phương án giá hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý trình UBND Thành phố ban hành theo quy định, trong đó đặc biệt lưu ý đối với các hàng hóa dịch vụ bị ảnh hưởng lớn do biến động của giá xăng dầu.
3. Giao Sở Tài chính theo dõi chặt chẽ tình hình giá cả thị trường; chủ trì phối hợp với các Sở, ngành, các cơ quan đơn vị có liên quan theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường.
Rà soát, đề xuất hoàn thiện hệ thống xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, quy chuẩn kỹ thuật địa phương giai đoạn 2026 - 2027
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng đã ký ban hành Kế hoạch số 171/KH-UBND ngày 24/4/2026 về việc rà soát, đề xuất hoàn thiện hệ thống xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, quy chuẩn kỹ thuật địa phương của thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 - 2027.
Mục tiêu của Kế hoạch nhằm xác lập khung danh mục chiến lược và tổ chức triển khai xây dựng, đề xuất xây dựng các TCCS, QCĐP đối với những lĩnh vực còn khoảng trống trên địa bàn Thành phố. Trọng tâm là các nhóm lĩnh vực trọng điểm, có tính đột phá đã được rà soát, nhằm kiến tạo hành lang kỹ thuật đồng bộ, bảo đảm tính tiên phong, có tính tương thích cao trong lộ trình hội nhập, phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo; đồng thời gắn với các kết quả đầu ra cụ thể, có thể đo lường, đánh giá được trong quá trình tổ chức thực hiện.
Trong giai đoạn 2026-2027, hoàn thành công tác rà soát, phân loại và xác lập danh mục các "khoảng trống" về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo từng nhóm lĩnh vực, mức độ ưu tiên và tính cấp thiết của thực tiễn quản lý, nhằm tạo cơ sở khoa học cho lộ trình ban hành các TCCS, QCĐP trong giai đoạn tiếp theo.
Thiết lập khung danh mục TCVN, QCVN mới, theo định hướng hài hòa hóa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn tiên tiến, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Thủ đô; tập trung vào các lĩnh vực then chốt như: Hạ tầng kỹ thuật đô thị và năng lượng; Xây dựng và đô thị thông minh; Y tế số, dữ liệu và liên thông hệ thống; Chuyển đổi số, tích hợp và an toàn thông tin; cùng các lĩnh vực nông nghiệp, môi trường và các lĩnh vực có yêu cầu quản lý đặc thù khác.
Trên cơ sở danh mục đã xác lập, lựa chọn những nội dung thực sự cấp thiết, có đủ điều kiện và đúng thẩm quyền để tổ chức nghiên cứu xây dựng TCCS hoặc QCĐP áp dụng thống nhất trong phạm vi quản lý. Đối với các nội dung vượt thẩm quyền, Thành phố sẽ chủ động đề xuất Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng quốc gia và các Bộ quản lý chuyên ngành nghiên cứu xây dựng TCVN, QCVN hoặc cung cấp hướng dẫn chuyên môn; xem xét xây dựng TCCS, QCĐP đối với trường hợp cần thiết, phù hợp quy định pháp luật và điều kiện thực tiễn của Thành phố.
Về nội dung triển khai, Thành phố sẽ rà soát, cập nhật và hoàn thiện danh mục khoảng trống kỹ thuật một cách toàn diện. Tập trung đối chiếu thực trạng địa phương với hệ thống TCVN, QCVN hiện hành cũng như các tiêu chuẩn quốc tế, khu vực để xác định rõ những nội dung chưa có quy định hoặc đã có nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đặc thù của Thành phố.
Tổ chức các cuộc họp chuyên đề, hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia, doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ quan quản lý chuyên ngành để làm rõ nhu cầu, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, tính cần thiết và tính khả thi của từng nội dung.
Đẩy mạnh công tác tham vấn Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng quốc gia và các Bộ quản lý chuyên ngành, các chuyên gia, đơn vị tư vấn làm cơ sở để xác lập sự đồng thuận.
Trên cơ sở kết quả tham vấn, thực hiện phân luồng và xác lập lộ trình thực thi theo 03 loại hình tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chiến lược: Đề xuất, phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung hệ thống TCVN, QCVN. Thực hiện lộ trình nội địa hóa và áp dụng trực tiếp các khung tiêu chuẩn tiên tiến (ISO, IEC, EN...) đối với những lĩnh vực công nghệ mới, hạ tầng số mà hệ thống quy định trong nước chưa kịp đáp ứng. Xác lập hệ thống QCĐP dành riêng cho các đối tượng đặc thù và các bài toán kỹ thuật "không tiền lệ" của Hà Nội. Loại hình này ưu tiên phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm, các sản phẩm - dịch vụ mang bản sắc Thủ đô.
Đồng thời, hoàn thành rà soát toàn bộ danh mục TCVN/QCVN hiện hành: (1) Tiêu chuẩn cần bãi bỏ/sửa đổi do lạc hậu; (2) Tiêu chuẩn cần xây dựng mới; (3) Tiêu chuẩn cần làm rõ; (4) Danh mục tiêu chuẩn tiên tiến của nước ngoài đề xuất nghiên cứu áp dụng.
Thiết lập khung định hướng "Bộ tiêu chuẩn áp dụng cho Thủ đô" theo nguyên tắc đồng bộ - liên kết vùng - đa tầng đa lớp - xanh/thông minh - thích ứng biến đổi khí hậu - quản trị phát triển.
Tiếp tục xây dựng và ban hành Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt.
Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn kỹ thuật về Trạm biến áp ngầm và hành lang an toàn lưới điện cao áp trong đô thị mật độ cao; xây dựng bộ tiêu chuẩn hướng dẫn lắp đặt trạm biến áp trong các công trình đa năng, tổ hợp thương mại ngầm bảo đảm an toàn cháy nổ và vận hành thông minh; xây dựng khung tiêu chuẩn kỹ thuật cho Hạ tầng năng lượng mới: trạm sạc xe điện (EV charging), hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) và lưới điện thông minh (Smart Grid) tại các khu/cụm công nghiệp.
Rà soát, xây dựng Bộ định mức kinh tế - kỹ thuật mô hình nông nghiệp trải nghiệm. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn cho các sản phẩm OCOP, nông nghiệp sinh thái và các quy định về an toàn thực phẩm theo hướng tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế (GlobalGAP, Organic). Xây dựng TCCS, QCĐP về nông nghiệp tuần hoàn, xử lý phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi tại chỗ; trạm trung chuyển rác thải thông minh; các sản phẩm tái chế từ rác thải xây dựng và rác thải nhựa...
Ban hành Quy chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng đã ký ban hành Quyết định số 49/2026/QĐ-UBND ngày 25/4/2026 về ban hành Quy chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố Hà Nội trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Quy chế này gồm 03 Chương, 09 Điều quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, trách nhiệm và quan hệ phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đối tượng áp dụng gồm: (1) Các Sở, ngành Thành phố, UBND các xã, phường; các cơ quan, đơn vị có liên quan trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. (2) Ban Chỉ đạo Thành phố chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 Thành phố).
Nguyên tắc phối hợp được quy định: (i) Công tác phối hợp dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. (ii) Hoạt động phối hợp được thực hiện theo nguyên tắc kịp thời, hiệu quả; quá trình phối hợp không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ và không cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. (iii) Việc trao đổi thông tin tội phạm, điều tra thực hiện các biện pháp công tác nghiệp vụ phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả phải đảm bảo đúng quy định và bảo mật.
Nội dung phối hợp: Phối hợp trong xây dựng kế hoạch, phương án công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, trong đó phân định rõ phạm vi trách nhiệm quản lý và hoạt động, các biện pháp quản lý theo ngành, lĩnh vực, địa bàn; những vấn đề có liên quan đến ngành hoặc địa phương khác cần có sự trao đổi, bàn bạc thống nhất với các cơ quan liên quan trước khi quyết định hoặc trình cấp trên quyết định, phê duyệt theo thẩm quyền.
Phối hợp trong việc phát hiện, thu thập, trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu.
Phối hợp tổ chức điều tra, kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vụ việc vi phạm về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Phối hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách pháp luật khi phát sinh những vấn đề mới trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, buôn bán, vận chuyển hàng nhập lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả và các hành vi gian lận thương mại khác trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.
Phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền.
Phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho các lực lượng chức năng trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động hợp tác quốc tế có liên quan đến đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ thực thi.
Phối hợp với các doanh nghiệp, các Hiệp hội ngành hàng, Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam, Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, người tiêu dùng; các doanh nghiệp cần chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc cung cấp thông tin nhận biết hàng thật, hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ làm căn cứ kiểm tra và xử lý vi phạm.