Biểu diễn cồng chiêng, một nét văn hóa của người dân tộc Mường ở Yên Xuân.
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, phóng viên Cổng Thông tin điện tử Thành phố đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Duy Quang - Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Hà Nội để cùng nhìn lại chặng đường đã qua, cũng như định hướng cho giai đoạn mới trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết và gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc.
Phóng viên: Thưa ông, năm 2026 là dấu mốc đặc biệt khi ngành công tác dân tộc hướng tới kỷ niệm 80 năm truyền thống. Sau chặng đường ấy, công tác dân tộc, tôn giáo của Thủ đô đã chuyển mình như thế nào?
Ông Bùi Duy Quang: Trải qua 80 năm kể từ sắc lệnh lịch sử năm 1946, công tác dân tộc của Thủ đô đã chuyển mạnh từ vai trò quản lý hành chính đơn thuần sang vai trò phục vụ, kiến tạo và kết nối khối đại đoàn kết. Chúng tôi không chỉ thực thi chính sách mà còn đồng hành trực tiếp cùng bà con thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách đặc thù của thành phố. Nhiệm vụ hiện nay là lắng nghe, giải quyết nguyện vọng chính đáng của đồng bào và các tổ chức tôn giáo, biến niềm tin của nhân dân thành hành động thực tế để ổn định và phát triển Thủ đô.
Xã Yên Bài chú trọng phát triển văn hóa Mường thông qua nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc
Phóng viên: Hà Nội hiện có sự hiện diện của 49/54 dân tộc anh em cùng sinh sống. Làm thế nào để Thủ đô vừa giữ được bản sắc riêng của từng dân tộc, từng tổ chức tôn giáo, vừa tạo ra sức mạnh chung thống nhất trong đa dạng?
Ông Bùi Duy Quang: Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là nơi hội tụ văn hóa. Cộng đồng hơn 109.000 người đồng bào dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành quan trọng, không thể tách rời của Thủ đô. Với sự hội tụ của 49/54 dân tộc anh em, Hà Nội thực sự là một Việt Nam thu nhỏ, nơi đa dạng bản sắc không phải là rào cản mà là nguồn lực nội sinh vô giá. Bí quyết của sự thống nhất nằm ở chỗ chúng tôi xác định mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo là một mảnh ghép bình đẳng trong bức tranh văn hiến nghìn năm, để mọi người đều là chủ thể tự giác gìn giữ bản sắc của mình.
Phóng viên: Trong những năm qua, Hà Nội đã cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước bằng những chính sách nào để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức tôn giáo?
Ông Bùi Duy Quang: Thành phố đã triển khai đồng bộ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, trọng tâm là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2030. Hà Nội tập trung đầu tư các thiết chế văn hóa cơ sở, khôi phục làng nghề truyền thống, hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy di sản và khuyến khích cộng đồng tự tin sử dụng trang phục, ngôn ngữ, nghi lễ truyền thống trong đời sống thường nhật. Hiệu quả lớn nhất không chỉ là những công trình vật chất mà còn là sự hồi sinh của các câu lạc bộ văn hóa ngay tại cộng đồng.
Phóng viên: Thủ đô đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030. Vậy ngành dân tộc, tôn giáo có kế hoạch gì để phát huy lợi thế từ nguồn lực văn hóa của đồng bào?
Ông Bùi Duy Quang: Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, chúng tôi xác định phải biến di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số thành tài sản có giá trị kinh tế. Hiện, Sở đang phối hợp với các ngành, các địa phương hỗ trợ bà con chuẩn hóa sản phẩm làng nghề, thuốc nam để xúc tiến thương mại, đồng thời phát triển các tour du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng chuyên nghiệp như mô hình tại Ba Vì. Mục tiêu là kết nối trực tiếp nguồn lực văn hóa vào hệ sinh thái du lịch và công nghiệp văn hóa của Thủ đô.
Phóng viên: Ông có thể chia sẻ rõ hơn về những mô hình sinh kế đang phát huy hiệu quả tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của Hà Nội?
Ông Bùi Duy Quang: Tại các xã như Suối Hai, Ba Vì, Yên Bài, Yên Xuân, Mỹ Đức, nhiều mô hình sinh kế dựa trên di sản văn hóa và làng nghề truyền thống đã được hình thành. Các mô hình này rất đa dạng, từ du lịch cộng đồng, trải nghiệm văn hóa đến phát triển sản phẩm đặc thù như nghề thuốc nam của người Dao. Năm 2024, Hà Nội đã công bố mô hình du lịch cộng đồng với tên gọi "điểm đến du lịch cộng đồng Tản Bản Miền" tại xã Ba Vì. Những mô hình thành công phải là nơi bà con giữ được bản sắc riêng, tránh thương mại hóa quá mức và có kết nối bài bản với thị trường.
Phóng viên: Vậy ngành đang có định hướng dài hạn ra sao để bảo tồn bản sắc văn hóa gắn với phát triển du lịch?
Ông Bùi Duy Quang: Sở Dân tộc và Tôn giáo đang xây dựng Đề án bảo tồn bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2025-2030, dự kiến trình Thành phố vào tháng 8/2026. Đề án sẽ xây dựng các cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư vào hạ tầng du lịch vùng núi, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn văn hóa với bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh trật tự xã hội. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số Hà Nội không chỉ ấm no về kinh tế mà còn là không gian văn hóa đặc sắc, đóng góp xứng đáng vào vị thế của Thủ đô văn hiến, văn minh và hiện đại.
Cổng Thông tin điện tử Thành phố trao đổi với ông Bùi Duy Quang, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Hà Nội về 80 năm truyền thống ngành quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo của Thủ đô.
Phóng viên: Nhìn về tầm nhìn đến năm 2045, ngành dân tộc, tôn giáo sẽ có những đột phá gì để mọi người dân đều trở thành chủ thể kiến tạo trong một Hà Nội hạnh phúc?
Ông Bùi Duy Quang: Chúng tôi hướng đến một cuộc cách mạng trong phương thức quản lý, chuyển đổi số toàn diện và lấy con người làm trung tâm. Đột phá lớn nhất sẽ là số hóa toàn bộ dữ liệu di sản và niềm tin để mọi người dân dễ dàng tiếp cận, khai thác và phát huy giá trị văn hóa trên không gian số. Ngành cũng sẽ kiến tạo những không gian sống mà ở đó mọi cá nhân, dù ở dân tộc hay niềm tin nào, đều có cơ hội đóng góp trí tuệ, trở thành chủ thể kiến tạo trực tiếp trong một Hà Nội văn minh, hiện đại. Đích đến cuối cùng là một Thủ đô hạnh phúc, nơi đoàn kết và bản sắc văn hóa trở thành sức mạnh thời đại để Hà Nội vươn tầm quốc tế.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi.