Mã số:
01C-04/02-2020-03
Tên đề tài:
Nghiên cứu xây dựng và chuẩn hoá cơ sở dữ liệu công trình ngầm gắn với cấu trúc nền địa chất phục vụ quản lý phát triển không gian ngầm đô thị trung tâm thành phố Hà Nội
Đơn vị chủ trì:
Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội
Thời gian:
2020
-2023
Lượt đọc:
21
Chủ nhiệm đề tài:
PGS.TSKH. Trần Mạnh Liểu
Kết quả nghiệm thu:
Chưa nghiệm thu
Ngày đăng:
02/12/2025 09:12
Sự cần thiết:

Thế kỷ XXI là thế kỷ sử dụng KGN. Đó là Tuyên ngôn của Hiệp hội quốc tế về Hầm và Không gian ngầm (ITA) tại Hội thảo quốc tế Tokyo, năm 1991. Ngày nay, người ta đã đề cập đến phát triển tổng hợp “đô thị ngầm” hay “đô thị sâu” (deep cities) chứ không chỉ là sử dụng không gian ngầm đô thị để giải quyết một loạt vấn đề giao thông đô thị, chôn lấp các đường ống kỹ thuật… và xu hướng quản lý đô thị thông minh đa mục tiêu, nhiều đối tượng cả trên mặt không gian ngầm đang được triển khai trên khắp thế giới tại các đô thị lớn bằng công nghệ số với các hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) lớn liên ngành, đặc biệt là cơ sở dữ liệu không gian từ khi xuất hiện công nghệ GIS (Global information system).

Đối tượng quản dưới KGN rất đa dạng, phức tạp, lịch sử lâu dài, sự phát triển của chúng không thể đảo ngược được như các hệ thống công trình trên mặt đất. Do vậy, toàn bộ thông tin về đối tượng ngầm cần được hệ thống hóa trong CSDL thống nhất gắn kết với cấu trúc nền địa chất. Nhiều đô thị lớn trên thế giới đã được quy hoạch, xây dựng và phát triển tương đối đồng bộ vẫn triển khai dự án “CSDL địa chất đô thị” để quản hiệu quả tổng thể đô thị trong hệ thống tương tác thống nhất “Công trình bề mặt - công trình ngầm - cấu trúc nền địa chất”.

Cơ sở dữ liệu (Database- CSDL) là tập hợp các dữ liệu (thông tin) có tổ chức, có cấu trúc, liên kết với nhau về mặt logic, thường được lưu trữ và truy cập điện tử từ hệ thống máy tính.

Để quản lý, lưu trữ, truy vấn khai thác CSDL, người sử dụng cần phải được cung cấp Hệ quản sở dữ liệu (Database Management System - DBMS), được gọi các phần mềm.

Hệ thống cơ sở dữ liệu là tổng cộng của cơ sở dữ liệu (Database), DBMS và các ứng dụng liên quan.

Hệ thống thông tin địa (GIS) ra đời từ những năm 1960, cùng với sự phát triển nhanh, mạnh của công nghiệp máy tính đã được thế giới biết đến như một công cụ đắc lực không thể thiếu trong quản lý xã hội, cơ sở hạ tầng… Trên nền tảng phát triển GIS, CSDL không chỉ dừng lại các thông tin thuộc tính các văn bản còn khả năng phân tích, tích hợp và hiển thị trực quan dữ liệu không gian.

Để quản lý đô thị thông minh, dữ liệu đa nguồn cần được tích hợp trong một CSDL không gian, trước hết cần thu thập, quản lý và thể hiện các số liệu liên quan đến đô thị một cách hệ thống. Sau đó các thuật toán hiện đại về số liệu lớn (big data) như học máy (ML) và trí tuệ nhân tạo (AI)… sẽ được áp dụng nhằm tối ưu trong thiết kế, phân loại nhận diện sẽ được đưa ra thực hiện nhằm giúp cho việc quản đô thị một cách tối ưu và hiệu quả nhất. Một trong những bước đầu tiên này đó là thu thập và quản lý, số hóa và thể hiện các số liệu này một cách hệ thống.

Hiện nay đã có để quản lý số liệu nói chung các nền tảng cơ sở dữ liệu như ORACLE, MY SQL, POSTGRE SQL kết hợp với hệ thông tin địa (GIS) như ArcGIS, MapInfo, QGIS, Generic Mapping Tools vv được sử dụng nhiều để xây dựng các phần mềm chuyên dụng cho việc tính toán cũng như thể hiện các kết quả,

Tại đô thị Hà Nội và các đô thị khác ở nước ta, trong suốt thời gian dài, công trình ngầm (CTN) đô thị chủ yếu là hệ thống đường ống cấp nước, đường cống thoát nước, một số cáp điện và viễn thông được chôn ngầm, rất nông, dễ gặp sự cố. Một số tuyến dây điện viễn thông treo ngổn ngang dọc các đường phố, được “ngầm hóa” vào một số đoạn hào kỹ thuật ngắn.

Thời gian sau đó, trong các khu chung cư cao tầng đã bắt đầu sử dụng tầng hầm làm gara, siêu thị. Một số dự án hầm vượt cho người đi bộ, hầm đỗ xe, hầm vượt cho xe cơ giới qua nút giao cắt, và đặc biệt là hầm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn dài 1490m cho 6 làn xe được hoàn thiện là một mốc đáng ghi nhận về sự phát triển CTN đô thị ở nước ta.

Phải đến hơn 10 năm gần đây, trong bối cảnh áp lực sức chứa dân số đô thị tăng cao, các đô thị đã triển khai nhiều dự án phát triển các khu đô thị NÉN, tàu điện ngầm, đường bộ đường sắt trên cao, thì CTN đô thị mới thực sự phát triển, KGN đô thị phần sâu bị chiếm dụng tràn lan, chủ yếu bới hệ thống cọc khoan nhồi... Việc triển khai thực hiện các dự án CTN đầu tiên đã bộc lộ nhiều bất cập về kiến thức, công nghệ, quy hoạch, pháp lý, đặc biệt là cơ sở dữ liệu về cấu trúc nền địa chất và CTN đô thị rất tản mạn.

Ngày 03/12/2015, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung không gian xây dựng ngầm đô thị trung tâm - thành phố Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 tại quyết định số 6649/QĐ-UBND. Trên sở đó ngày 15/3/2022 của UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt Quy hoạch chung không gian xây dựng ngầm đô thị trung tâm TP Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỷ lệ 1/10.000, theo Quyết định số 913/QĐ-UBND.

Việc triển khai tiếp theo quy hoạch chi tiết KGN các dự án CTN rất cần CSDL thống nhất về hiện trạng của hệ thống CTN đô thị và các công trình bề mặt tương ứng, về môi trường địa chất đô thị.

Về dữ liệu hệ thống CTN đô thị Nội hiện nay rất phân tán, mỗi sở, ngành chịu trách nhiệm quản lý các số liệu của mình, thậm chí nhiều công trình hiện nay do Chủ đầu tư lưu trữ. Về dữ liệu cấu trúc nền địa chất đô thị Hà Nội, đặc biệt đô thị Hà Nội cũ đã được nghiên cứu rất tốt nhiều đề tài. Tuy nhiên, đây chưa phải dữ liệu không gian, nên chưa thể sử dụng hiệu quả cho quy hoạch CTN và KGN đô thị Hà Nội.

Thời gian gần đây, UBND Hà Nội phối hợp với Tổng cục Địa chất Việt Nam và Cục địa chất Anh đã xây dựng đề án “Xây dựng sở dữ liệu địa chất phát triển công nghệ quản trị thông minh hệ thống không gian ngầm đô thị Hà Nội”, nhưng gặp nhiều khó khăn nên chưa thể triển khai. CSDL không gian cùng quan trọng cho hoạt động quy hoạch và quản lý hạ tầng đô thị một cách hệ thống, lâu dài. Tuy nhiên xây dựng CSDL không gian vẫn cần những đầu hơn nữa, cả về phương pháp thực tế, đặc biệt là khả năng trực quan hóa dữ liệu của các phần mềm.

Nghiên cứu này tập trung cho đô thị trung tâm thành phố Nội, nhằm hệ thống hóa xây dựng bộ dữ liệu về CTN gắn với cấu trúc nền địa chất, phục vụ cho công tác quản lý quy hoạch và phát triển bền vững KGN đô thị. Bộ dữ liệu này cũng là cơ sở để sử dụng cho các phần mềm công nghệ tính toán tương ứng khác phục vụ cho các mục tiêu khác nhau.

Mục tiêu tổng quát:

- Thu thập, chuẩn hóa dữ liệu công trình ngầm cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm thành phố Hà Nội.

- Đề xuất được các giải pháp quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công trình ngầm và cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm thành phố Hà Nội.

Mục tiêu cụ thể:

- Thu thập và hệ thống hóa được dữ liệu hiện trạng công trình ngầm (CTN), công trình bề mặt liên kết (có phần ngầm sâu) và cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm Hà Nội. Tập trung ưu tiên cho các CTN quan trọng ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển KGN và xây dựng các CTN đô thị khác. .

-   Chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu (CSDL) không gian về hệ thống CTN, công trình bề mặt liên kết cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm Nội

-   Xây dựng được phần mềm quản lý CSDL không gian hệ thống CTN, công trình bề mặt liên kết và cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm Hà Nội

- Đề xuất giải pháp quản lý, khai thác, sử dụng CSDL công trình ngầm gắn với cấu trúc nền địa chất cho quy hoạch xây dựng CTN và quản lý phát triển không gian ngầm (KGN) đô thị trung tâm Hà Nội.

Nội dung:

- Nghiên cứu tổng quan, đánh giá thực trạng về quản lý phát triển không gian ngầm (KGN) đô thị. Tổng quan về cơ sở dữ liệu và hệ thống cơ sở dữ liệu không gian công trình ngầm (CTN) đô thị gắn với cấu trúc nền địa chất.

- Thu thập tài liệu, phân tích ảnh, khảo sát hiện trường bổ sung, tổng hợp số liệu về hệ thống công trình ngầm, công trình liên kết bề mặt (CTM) đô thị trung tâm Hà Nội. Tập trung cho một quận điển hình.

- Thiết kế, mô hình hóa, chuẩn hóa, chuyển đổi và biên tập dữ liệu phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) về hệ thống CTN, công trình liên kết bề mặt đô thị trung tâm Hà Nội. Tập trung cho một quận điển hình

- Thu thập tài liệu, khảo sát hiện trường bổ sung, tổng hợp số liệu về cấu trúc nền đô thị trung tâm Hà Nội, trên toàn bộ 20 quận, huyện.

- Thiết kế, mô hình hóa, chuẩn hóa, chuyển đổi và biên tập dữ liệu phục vụ xây dựng CSDL về cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm Hà Nội, trên toàn bộ 20 quận, huyện.

- Xây dựng phần mềm quản lý CSDL không gian CTN, CTM gắn với cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm Hà Nội bằng công cụ GIS:

- Nhập dữ liệu, kiểm tra sản phẩm (kiểm tra sử dụng cơ sở dữ liệu) và xây dựng hướng dẫn sử dụng phần mềm

- Đề xuất các giải pháp quản lý, khai thác, sử dụng CSDL CTN gắn với cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm thành phố Hà Nội.
Kết quả:
1. Đề tài đã thống nhất một số khái niệm và nội dung về chuẩn hóa dữ liệu công trình mặt, công trình ngầm và cấu trúc nền địa chất đô thị, trong đó:
- Chuẩn hóa dữ liệu CTM và CTN là hệ thống hóa công trình theo tính chất kết cấu, công năng sử dụng, quy mô, mức độ quan trọng, thông số kỹ thuật của công trình (phân loại, phân cấp công trình), cùng với các dữ liệu địa danh, tên gọi… (chuẩn hóa dữ liệu phi không gian).
- Chuẩn hóa dữ liệu không gian CTM và CTN bổ sung thêm tọa độ và các dữ liệu không gian được chuẩn hóa, nắn chỉnh, sửa lỗi topology từ các hệ thống khác nhau về cùng hệ tọa độ (VN 2000) với các trường dữ liệu tương ứng.
- Cấu trúc nền địa chất là hệ thống sắp xếp không gian các lớp đất đá được phân chia chi tiết theo các tiêu chí đồng nhất tương ứng với tỷ lệ và mục tiêu nghiên cứu.
- Phân vùng cấu trúc nền địa chất là phân chia lãnh thổ ra các đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn ở các cấp bậc khác nhau theo các tiêu chí đồng nhất về cấu trúc nền.
- Chuẩn hóa dữ liệu cấu trúc nền địa chất, là phân chia môi trường địa chất thành các lớp đất đá theo các tiêu chí đồng nhất tương ứng và phân chia lãnh thổ thành các vùng lãnh thổ nhỏ hơn theo các tiêu chí đồng nhất về cấu trúc nền phục vụ cho quy hoạch phát triển KGN đô thị.
- Chuẩn hóa dữ liệu không gian về cấu trúc nền địa chất bổ sung thêm việc chuyển đổi, nắn chỉnh, sửa lỗi topology dữ liệu không gian cho toàn bộ các hình trụ hố khoan, mặt cắt, bản đồ sau khi đã được chuẩn hóa theo mô hình dữ liệu đã thiết kế từ các hệ thống khác nhau về cùng hệ tọa độ (VN 2000)
- Tiêu chí chuẩn hóa được xác định từ mục tiêu chuẩn hóa dữ liệu. Cùng một tổ hợp dữ liệu, nhưng với mục đích sử dụng khác nhau, có thể lựa chọn các tiêu chí tương ứng khác nhau, và kết quả chuẩn hóa khác nhau.
2. Đề tài đã thống nhất cơ sở khoa học và pháp lý về chuần hóa các dữ liệu CTM, CTN và cấu trúc nền địa chất, trong đó:
- Lý thuyết hệ thống địa - kỹ thuật (HĐKT) được sử dụng làm cơ sở khoa học để chuẩn hóa dữ liệu. HĐKT phân chia thành 2 phụ hệ thống: phụ hệ thống kỹ thuật và phụ hệ thống môi trường địa chất (MTĐC). Trong đó phụ hệ thống kỹ thuật (bao gồm các CTM, CTN) thể hiện quy mô và bản chất tác động đến MTĐC, còn môi trường địa chất (MTĐC) phản ánh mức độ nhạy cảm của các lớp đất đá với các loại tải trọng tác động khác nhau từ phụ hệ thống kỹ thuật. Do vậy để nghiên cứu đánh giá hoạt động và trạng thái của HĐKT đô thị cần phải chuẩn hóa (hệ thống hóa) các yếu tố cấu trúc của phụ hệ thống kỹ thuật và môi trường địa chất đô thị theo các tiêu chí tương ứng.
- CTN, CTM được chuẩn hóa (hệ thống hóa) theo các tiêu chí phân loại, phân cấp công trình của hệ thống (luật, nghị định, thông tư, tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng).
- Môi trường địa chất là một hệ thống (địa hệ) có tính tổ chức cao. Dựa vào tính chất tổ chức cấp bậc của địa hệ, có thể phân chia MTĐC thành các phụ hệ thống ở các cấp bậc khác nhau theo các tiêu chí đồng nhất tương ứng về tuổi, về nguồn gốc, về thành phần khoáng vật, trạng thái… Đó chính là cơ sở khoa học để lựa chọn các tiêu chí chuẩn hóa dữ liệu cấu trúc nền địa chất.
- Các dữ liệu không gian được bổ sung thêm các tiêu chuẩn không gian địa lý trong và ngoài nước.
3. Đề tài đã thu thập được khối lượng lớn tài liệu về CTM, CTN một số quận nội thành (4 quận nội thành), mà chủ yếu tập trung cho quận Hai Bà Trưng, đặc biệt thu thập được khối lượng rất lớn tài liệu về cấu trúc nền địa chất cho 20 quận, huyện đô thị trung tâm Hà Nội, kế thừa được nhiều kết quả nghiên cứu cơ bản và khảo sát từ trước đến nay. Đã bổ sung, hoàn thiện các số liệu thu thập bằng phân tích ảnh và khảo sát hiện trường bổ sung.
4. Các số liệu thu thập đã được hệ thống hóa, chuẩn hóa dữ liệu (phi không gian) theo các tiêu chí phân loại, phân cấp công trình và phân chia các lớp đất đá, phân vùng cấu trúc nền:
- Các CTM, CTN thu thập dữ liệu tập trung ở quận Hai Bà Trưng, trong đó: CTM là các công trình có phần ngầm sâu chiếm dụng KGN, bao gồm: Nhà cao tầng, các cầu giao thông, các tuyến đường trên cao có móng sâu là hệ thống các cọc khoan nhồi; CTN là các công trình: hạ tầng kỹ thuật ngầm (đường ống cấp nước, thoát nước, tuy nen, hào cống bể kỹ thuật), giao thông ngầm ( hầm đường bộ, hầm cho người đi bộ), phần ngầm của các CTM (tầng hầm của nhà cao tầng, hệ thống cọc khoan nhồi, hệ thống các hố khoan khai thác nước ngầm). Các CTM, CTN được thể hiện trên các bản đồ 2D tỷ lệ 1: 2000 làm cơ sở để chuyển đổi, chuẩn hóa thành bộ CSDL không gian (3D) tương ứng.
- Nền địa chất đô thị Hà Nội được phân chia thành 19 lớp đất đá theo tiêu chí đồng nhất về tuổi - nguồn gốc - thành phần thạch học và các chỉ tiêu phân loại (trạng thái, độ hạt…), phản ánh đặc điểm ứng xử và mức độ nhậy cảm với các loại tải trọng tác động trong các hoạt động xây dựng đo thị. Đề tài đã xây dựng các bản đồ, mặt cắt ĐCCT 2D phân bố không gian các lớp đất đó, tỷ lệ 1: 25 000.
- Cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm Hà Nội được phân chia thành 5 kiểu, 16 phụ kiểu và 25 dang theo đặc điểm đồng nhất của cấu trúc nền. Đề tài đã xây dựng bản đồ cấu trúc nền đô thị trung tâm Hà Nội và 20 quân, huyện tương ứng, tỷ lệ 1: 25 000, đánh giá sơ bộ mức độ thuận lợi, không thuận lợi cho xây dựng các công trình ngầm loại nông (từ 5 đến 15m), loại sâu (từ 15 đến 30m và sâu hơn).
Đó là những cơ sở để chuyển đổi và chuẩn hóa bộ CSDL không gian về cấu trúc nền địa chất đô thị trung tam Hà Nội.
5. Từ bộ CSDL (phi không gian) CTM, CTN và cấu trúc nền địa chất đã được chuẩn hóa, Đề tài đã bổ sung tọa độ, độ cao, độ sâu và các dữ liệu không gian khác, căn chỉnh, sửa lỗi topology, chuyển đổi dữ liệu từ các tọa độ khác về tọa độ VN 2000 để xây dựng bộ CSDL không gian CTM, CTN và cấu trúc nền địa chất đô thị trung tâm Hà Nội. Đề tài đã xây dựng mô hình 3D biến đổi địa hình bề mặt 19 lớp đất, các mặt cắt ĐCCT 3D tương ứng đô thị trung tâm Hà Nội. Bộ CSDL không gian CTM, CTN và cấu trúc nền địa chất, bao gồm: bản đồ cấu trúc nền, các bản đồ phân bố không gian 19 lớp đất, các mặt cắt ĐCCT, các hình trụ hố khoan đi cùng và kết quả dánh giá sơ bộ mức độ thuận lợi của các loại cấu trúc nền trong xây dựng các CTN loại nông và loại sâu đô thị trung tâm Hà Nội chính là những khuyến cáo tốt cho quy hoạch xây dựng và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị Hà Nội.
6. Đề tài đã xây dựng được phần mềm quản lý bộ CSDL không gian cho đề tài với mục đích là lưu trữ, cập nhập, truy xuất, hiển thị, trực quan hóa số liệu trên cả 2D và 3D phục vụ chủ yếu cho công tác quy hoạch, quản lý và phát triển KGN đô thị Hà Nội
7. Đề tài cũng đề xuất một số giải pháp quản lý, khai thác, sử dụng bộ CSDL không gian CTM, CTN và cấu trúc nền địa chất đô thị trung tam Hà Nội, bao gồm:
- Các giải pháp quản lý nhà nước về CSDL, mà chủ yếu là làm rõ hơn trách nhiệm của các Sở liên quan, các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng CSDL CTN gắn với cấu trúc nền địa chất trong thông tư số 11/2010/TT - BXD về quản lý CSDL công trình ngầm đô thị.
- Các giải pháp khai thác và sử dụng tích hợp liên ngành và hỗ trợ ra quyết định, mà chủ yếu là quy hoạch toàn diện đô thị, tối ưu hóa thiết kế, thi công các CTN trên cơ sở: i) Xây dựng các bản đồ phụ trợ về cấu trúc nền địa chất; ii) Đánh giá phân tích không gian ngầm; iii)Quy hoạch và thiết kế hạ tầng ngầm; iv) Tích hợp với quy hoạch mặt đất; v) Ứng phó với rủi ro và khác phục sự cố; vi) Quản lý tài nguyên và sử dụng đất. Một số giải pháp định hướng triển khai nhiệm vụ quy hoạch chung KGN đô thị mà chủ yếu là các giải pháp triển khai nhiệm vụ quy hoạch chi tiết tiếp theo không gian xây dựng ngầm đô thị trung tâm Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trên cơ sở quy hoạch chung đã được phê duyệt.
 
Tin đọc nhiều

Đại hội đại biểu Hội Luật gia quận Long Biên khoá IV, nhiệm kỳ 2024-2029

19:26 26/06/2024

HNP - Ngày 26/6, Hội Luật gia quận Long Biên tổ chức Đại hội đại biểu khóa IV, nhiệm kỳ 2024-2029 với nhiệm vụ đánh giá kết quả hoạt động Hội trong nhiệm kỳ 2018-2024, đề ra phương hướng trọng tâm nhiệm kỳ 2024-2029; đồng thời bầu Ban Chấp hành quận Hội khoá IV, bầu đại biểu dự Đại hội đại biểu Hội Luật gia thành phố Hà Nội lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2024-2029.

Triển khai thực hiện Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10/6/2024 của Chính phủ

06:39 26/06/2024

HNP – Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Minh Hải vừa ký ban hành Công văn số 1928/UBND-KSTTHC ngày 18/6/2024 về việc triển khai thực hiện Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10/6/2024 của Chính phủ.

Xây dựng thành phố Hà Nội tiêu biểu về lối sống, phong cách ứng xử

06:37 26/06/2024

HNP - Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà đã ký ban hành Kế hoạch số 182/KH-UBND ngày 14/6/2024 về việc tổ chức thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TU ngày 19/2/2024 của Ban Thường vụ Thành ủy “Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng về xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh đến năm 2025”.

Phê duyệt Phương án vị trí tuyến đường quy hoạch nối từ đê sông Hồng đến khu đô thị Thạch Bàn

21:33 18/06/2024

HNP - Phó Chủ tịch UBND Thành phố Dương Đức Tuấn vừa ký ban hành Quyết định số 2883/QĐ-UBND ngày 03/6/2024 về việc phê duyệt Phương án vị trí tuyến đường quy hoạch nối từ đê sông Hồng đến khu đô thị Thạch Bàn, quận Long Biên, tỷ lệ 1/500.

Nâng cao chất lượng quản lý phát triển xã hội gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân

21:31 18/06/2024

HNP – Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Kế hoạch số 181/KH-UBND ngày 13/6/2024 về việc thực hiện Chương trình hành động số 32-CTr/TU ngày 04/04/2024 của Thành ủy Hà Nội.