Thở máy là một trong những kỹ thuật không thể thiếu trong chuyên ngành hồi sức cấp cứu. Những bệnh nhân (BN) phải duy trì thở máy đa số là những BN rất nặng, có nhiều bệnh phối hợp cần phải cần phải có thời gian thở máy cần thiết để duy trì sự sống và phục hồi. Mặc dù đã có rất nhiều tiến bộ trong việc sử dụng các biện pháp phòng ngừa, các trang thiết bị và phương tiện chăm sóc, các phác đồ điều trị kháng sinh cập nhật nhưng viêm phổi liên quan đến thở máy (VPLQTM) cho đến giờ này vẫn là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng tỷ lệ tử vong, làm phức tạp quá trình điều trị bệnh lý nền.
Viêm phổi liên quan thở máy bản chất là một nhiễm khuẩn bệnh viện xuất hiện ở những BN phải thở máy xâm nhập qua ống nội khí quản (hoặc canuyn mở khí quản) ≥ 48 giờ ở các đơn vị Hồi sức tích cực và có tỷ lệ tử vong cao. Điều trị VPLQTM việc sử dụng kháng sinh càng sớm càng tốt, đặc biệt nếu có tình trạng sốc nhiễm khuẩn, để cải thiện tiên lượng BN, rút ngắn thời gian thở máy là một điều cần thiết. Mặt khác, việc định hướng vi khuẩn (VK), lựa chọn kháng sinh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả điều trị, nếu sử dụng kháng sinh không phù hợp có thể kéo dài thời gian điều trị và thậm chí tăng tỷ lệ tử vong (TLTV) lên gấp đôi.
Việc lựa chọn kháng sinh để điều trị theo kinh nghiệm VPLQTM đang là vấn đề vô cùng khó trong khi thực tế cho thấy có sự gia tăng đáng báo động tình trạng vi khuẩn kháng thuốc ở các đơn vị Hồi sức tích cực. Thông thường định hướng sử dụng kháng sinh sớm trên lâm sàng kinh điển sẽ dựa trên kết quả gợi ý từ việc nhuộm soi bệnh phẩm đờm lấy mẫu ở đầu xa, ở dịch rửa phế quản phế nang, tuy nhiên vì độ nhạy và độ đặc hiệu thấp nên không thể hy vọng nhiều vào các kỹ thuật này. Chẩn đoán chính xác loại VK gây VPLQTM thường dựa trên nuôi cấy truyền thống, phương pháp này cần thời gian dài (24 – 72 giờ) và có độ nhạy thấp nên nếu chờ kết quả để điều trị kháng sinh thì thường chậm so với đòi hỏi của lâm sàng.
Kỹ thuật sinh học phân tử PCR (Polymerase Chain Reaction- phản ứng chuỗi) có thể phát hiện VK từ những mẩu ADN hoặc mẩu ARN rất nhỏ chứ không nhất thiết phải là một VK sống ngay cả sau khi đã và đang điều trị kháng sinh. Kỹ thuật này chỉ đòi hỏi từ 5- 6 giờ nếu thực hiện thủ công và 4 giờ nếu thực hiện trên máy tự động là sơ bộ đã có thể biết tương đối chính xác căn nguyên VK gây bệnh. Áp dụng kỹ thuật này trong điều trị VPLQTM sẽ giúp cho các bác sỹ có thể lựa chọn sử dụng kháng sinh sớm và đúng theo chủng VK có khả năng giúp cải thiện tiên lượng người bệnh.
Với đặc thù thảm thực vật trong bệnh phẩm đường hô hấp đa dạng, phức tạp, số lượng thay đổi với từng cá thể, chúng tôi áp dụng kỹ thuật quantitative multiplex realtime PCR (PCR đa mồi định lượng) để có thể phát hiện được số lượng tế bào vi khuẩn có mặt ban đầu trong mẫu bệnh phẩm với các nồng độ khác nhau để khẳng định vi khuẩn gây bệnh. Mặt khác, căn nguyên vi sinh vật khuẩn gây VPLQTM nhiều chủng loại, thay đổi tùy thuộc từng cơ sở y tế, thời gian nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, cách lấy bệnh phẩm.
Trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi chỉ sử dụng kỹ thuật quantitative multiplex realtime PCR nhằm mục đích phát hiện 5 loại vi khuẩn gây bệnh chiếm tỷ lệ cao và nguy hiểm hường gặp trong các khoa Hồi sức tích cực như: Acinetobacter baumannii, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Staphylococus aureus.